Phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật Phục hồi, phá sản 2025 là một thủ tục pháp lý riêng, được thiết kế để doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán có cơ hội tái cấu trúc trước khi chuyển sang xử lý phá sản. Luật số 142/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 và dành riêng Chương II để quy định về thủ tục phục hồi.

Phục hồi hoạt động kinh doanh là gì?
Phục hồi hoạt động kinh doanh là cơ chế pháp lý nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã xử lý khó khăn về khả năng thanh toán và tiếp tục hoạt động theo một phương án được xây dựng, xem xét và giám sát theo Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15. Luật có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 và xác lập nguyên tắc ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điểm cần phân biệt là “có nguy cơ mất khả năng thanh toán” và “mất khả năng thanh toán” không phải cùng một trạng thái. Theo Điều 5 Luật 142/2025/QH15, doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau 06 tháng kể từ ngày đến hạn.
Với cách thiết kế này, phục hồi không nhất thiết chỉ được xem xét sau khi doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán. Việc nhận diện sớm nguy cơ mất khả năng thanh toán cho phép doanh nghiệp chuẩn bị phương án trước khi áp lực công nợ làm suy giảm thêm giá trị tài sản và khả năng vận hành.
Điểm mới lớn của Luật Phục hồi, phá sản 2025
Luật số 142/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, lần đầu thiết kế một chương riêng về thủ tục phục hồi trong cùng một đạo luật về phục hồi, phá sản. Điều 3 đặt nguyên tắc ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp, hợp tác xã; Điều 24 cho phép người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục này khi doanh nghiệp có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán.
Điểm thay đổi đáng chú ý nằm ở thời điểm can thiệp. Doanh nghiệp không phải chờ đến khi bị tuyên bố phá sản mới tìm kiếm cơ chế phục hồi. Khi đủ điều kiện, doanh nghiệp có thể yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi và phải chuẩn bị phương án phục hồi, danh sách chủ nợ, người mắc nợ cùng tài liệu, chứng cứ liên quan ngay trong hồ sơ.
Luật cũng thiết lập cơ chế giám sát xuyên suốt. Sau khi Tòa án thụ lý đơn, doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động nhưng chịu sự giám sát của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và Ban đại diện chủ nợ. Sau khi phương án được công nhận, tình hình thực hiện phải được báo cáo định kỳ 03 tháng một lần.
Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp
Theo Điều 24 Luật 142/2025/QH15, thủ tục phục hồi có thể được yêu cầu khi doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán. Người có quyền nộp đơn gồm người đại diện theo pháp luật; Hội đồng quản trị của công ty cổ phần; Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty hợp danh; Đại hội thành viên của hợp tác xã; chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Ngưỡng pháp lý cần theo dõi là 06 tháng. Doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán khi không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc có khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng. Khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau 06 tháng kể từ ngày đến hạn, doanh nghiệp được xác định là mất khả năng thanh toán theo Điều 5.
Khi nộp đơn, người nộp đơn phải kèm phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, danh sách chủ nợ, người mắc nợ và tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu có căn cứ, hợp pháp. Người nộp đơn chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin về danh sách chủ nợ và người mắc nợ.
Doanh nghiệp có thể đối chiếu thêm khái niệm và dấu hiệu nhận biết tại bài mất khả năng thanh toán và những quy định pháp lý cần biết của MAN.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp được thực hiện như thế nào?
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp được quy định riêng tại Chương II Luật 142/2025/QH15, từ khâu nộp và thụ lý đơn đến xây dựng phương án, tổ chức Hội nghị chủ nợ, công nhận nghị quyết và giám sát thực hiện. Các mốc thời gian dưới đây là những điểm doanh nghiệp và kế toán cần kiểm soát khi chuẩn bị hồ sơ.
- Trong 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán hoặc tổ Thẩm phán giải quyết đơn. Trong 12 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán xem xét và xử lý đơn theo Điều 25.
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, doanh nghiệp, hợp tác xã phải hoàn thiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh để Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo Thẩm phán.
- Hội nghị chủ nợ xem xét phương án phục hồi và biểu quyết theo quy định của Luật. Nghị quyết được thông qua khi có số chủ nợ đại diện từ 65% tổng số nợ của các chủ nợ tham gia biểu quyết tán thành.
- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi, Thẩm phán ra quyết định công nhận hoặc không công nhận nghị quyết theo Điều 34.
- Sau khi phương án được công nhận, doanh nghiệp thực hiện theo thời hạn trong nghị quyết của Hội nghị chủ nợ; nếu Hội nghị không xác định thời hạn thì thời hạn thực hiện không quá 03 năm kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án.
Điểm dễ nhầm nhất là mốc 30 ngày. Luật không tính 30 ngày từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án mà tính từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi. Tương tự, mốc tối đa 03 năm không mặc nhiên tính từ ngày Thẩm phán công nhận nghị quyết; nếu Hội nghị chủ nợ không xác định thời hạn thì thời hạn tối đa được tính từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án.
Để kế toán và người phụ trách hồ sơ dễ kiểm soát tiến độ, các mốc quan trọng có thể được hệ thống như sau.
| Mốc công việc | Thời hạn | Căn cứ |
| Phân công Thẩm phán | 03 ngày làm việc từ khi nhận đơn | Điều 25 |
| Thẩm phán xem xét đơn | 12 ngày từ ngày được phân công | Điều 25 |
| Hoàn thiện phương án phục hồi | 30 ngày từ ngày thụ lý đơn | Điều 28 |
| Công nhận nghị quyết Hội nghị chủ nợ | 07 ngày từ ngày nghị quyết thông qua phương án | Điều 34 |
| Báo cáo thực hiện phương án | 03 tháng/lần | Điều 35 |
Các mốc trên nên được theo dõi cùng hồ sơ kế toán, công nợ và dòng tiền để tránh tình trạng phương án được lập đúng hình thức nhưng không theo kịp khả năng thực hiện thực tế.
Nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
Theo Điều 28 Luật 142/2025/QH15, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh phải nêu rõ biện pháp phục hồi không trái pháp luật, điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán khoản nợ. Kế hoạch thanh toán phải bảo đảm thứ tự ưu tiên do luật quy định, vì vậy phương án không chỉ là kế hoạch kinh doanh mà còn là kế hoạch xử lý nghĩa vụ tài chính.
Một phương án có giá trị thực tế cần trả lời được ba vấn đề: doanh nghiệp tạo dòng tiền từ đâu, khoản nợ nào được thanh toán trước và trong thời gian nào từng mục tiêu phục hồi được hoàn thành. Các biện pháp có thể được lựa chọn phải phù hợp với hoạt động thực tế và không trái pháp luật.

Khi xây dựng phương án, doanh nghiệp có thể xem xét các nhóm biện pháp sau:
- Tổ chức lại hoạt động kinh doanh, tập trung nguồn lực vào hoạt động có khả năng tạo dòng tiền.
- Huy động và sử dụng nguồn lực hợp pháp để duy trì hoạt động và thực hiện phương án.
- Cơ cấu nghĩa vụ nợ, xác định thời hạn và kế hoạch thanh toán phù hợp với dòng tiền dự kiến.
- Xử lý hoặc khai thác tài sản theo phương án và quy định pháp luật.
- Các biện pháp phục hồi khác không trái pháp luật, được lượng hóa bằng điều kiện và tiến độ thực hiện cụ thể.
Theo Điều 28, kế hoạch thanh toán các khoản nợ phải bảo đảm thứ tự ưu tiên gồm chi phí phục hồi; các khoản nợ và quyền lợi của người lao động theo quy định; khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh; khoản nợ có bảo đảm; và các khoản nợ khác. Vì vậy, khi lập phương án, doanh nghiệp cần phân loại công nợ chính xác thay vì chỉ đưa ra một tổng số nợ.
Nguyên tắc ưu tiên phục hồi và thứ tự thanh toán
Điều 3 Luật 142/2025/QH15 xác định một trong những nguyên tắc cơ bản là ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong phương án phục hồi, Điều 28 tiếp tục đặt ra thứ tự ưu tiên thanh toán cụ thể, trong đó chi phí phục hồi và các khoản liên quan đến quyền lợi người lao động được xếp trước khoản nợ có bảo đảm và các khoản nợ khác.
Thứ tự thanh toán trong phương án phục hồi gồm:
- Chi phí phục hồi.
- Khoản nợ tiền lương; bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp thôi việc và quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động đã ký kết.
- Khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Khoản nợ có bảo đảm.
- Các khoản nợ khác.
Đây là điểm kế toán cần kiểm soát khi lập phương án. Việc phân loại sai một khoản nợ có thể làm thay đổi kế hoạch dòng tiền và ảnh hưởng đến khả năng chứng minh tính khả thi của phương án trước chủ nợ và Tòa án.
Giám sát thực hiện phương án phục hồi
Sau khi Thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Ban đại diện chủ nợ và chủ nợ giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã. Theo Điều 35, doanh nghiệp phải lập báo cáo về tình hình thực hiện phương án định kỳ 03 tháng một lần.
Ngay từ sau khi Tòa án thụ lý đơn, doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động nhưng chịu sự giám sát theo luật. Một số hoạt động như vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, mua bán hoặc cho thuê tài sản, chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp và một số giao dịch khác thuộc phạm vi giám sát phải được báo cáo theo quy định.
Vai trò của Quản tài viên trong giai đoạn này được phân tích sâu hơn tại bài Vai trò của Quản tài viên theo Luật Phục hồi, phá sản 2025 của MAN.
Doanh nghiệp cần duy trì hồ sơ giao dịch, sổ kế toán, chứng từ tài sản và công nợ nhất quán với báo cáo thực hiện phương án. Khi dòng tiền hoặc khả năng thanh toán thay đổi đáng kể, doanh nghiệp và chủ nợ có thể thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án theo Điều 36.

Thời hạn thực hiện phương án phục hồi
Thời hạn thực hiện phương án phục hồi do Hội nghị chủ nợ quyết định và ghi nhận trong nghị quyết thông qua phương án. Nếu Hội nghị chủ nợ không xác định được thời hạn, Điều 29 Luật 142/2025/QH15 quy định thời hạn thực hiện không quá 03 năm kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Do đó, cần phân biệt hai mốc: 30 ngày là thời hạn để hoàn thiện phương án kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn; còn tối đa 03 năm là thời hạn thực hiện phương án trong trường hợp Hội nghị chủ nợ không xác định thời hạn. Hai mốc này phục vụ hai giai đoạn khác nhau và không nên dùng thay thế cho nhau.
Thời hạn thực hiện cũng nên được gắn với các chỉ tiêu có thể kiểm chứng như dòng tiền, doanh thu, chi phí, tiến độ thu hồi công nợ và kế hoạch thanh toán. Phương án càng rõ mốc đo lường, doanh nghiệp càng dễ chứng minh khả năng thực hiện.
Khi nào thủ tục phục hồi dẫn đến thủ tục phá sản?
Thủ tục phục hồi không phải cơ chế bảo vệ vô thời hạn. Hội nghị chủ nợ có thể đề nghị áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và nghị quyết phải có nội dung về nghĩa vụ tạm ứng chi phí phá sản. Theo Điều 34, nếu tạm ứng chi phí phá sản được nộp, Thẩm phán đình chỉ thủ tục phục hồi và thụ lý vụ việc phá sản.
Bên cạnh trường hợp Hội nghị chủ nợ đề nghị phá sản, Điều 37 quy định nhiều trường hợp đình chỉ thủ tục phục hồi, trong đó có việc doanh nghiệp không hoàn thiện hoặc không thực hiện phương án, hết thời hạn nhưng không hoàn thành phương án, hoặc doanh nghiệp đã hoàn thành phương án. Vì vậy, đình chỉ thủ tục phục hồi không đồng nghĩa mọi trường hợp đều tự động chuyển sang phá sản.
Nếu phương án phục hồi không còn khả thi, doanh nghiệp không nên tiếp tục kéo dài việc thực hiện mà không đánh giá lại dòng tiền và nghĩa vụ. Khi thuộc trường hợp luật định, việc xử lý tiếp theo có thể chuyển sang thủ tục phá sản.
Khi cần đối chiếu toàn bộ trình tự phục hồi, phá sản và vai trò của Tòa án, có thể tham khảo quy trình thủ tục phá sản doanh nghiệp của MAN.
Doanh nghiệp nên chuẩn bị gì trước khi lập phương án phục hồi?
Trước khi lập phương án, doanh nghiệp nên chuẩn hóa dữ liệu về tài sản, công nợ, người mắc nợ, nghĩa vụ với người lao động, nghĩa vụ thuế và dòng tiền. Đây là những dữ liệu trực tiếp ảnh hưởng đến danh sách chủ nợ, phương án thanh toán và khả năng chứng minh phương án có thể thực hiện.
Các nhóm dữ liệu nên được rà soát đồng thời gồm:
- Danh sách chủ nợ, số dư từng khoản nợ, ngày đến hạn và tình trạng bảo đảm.
- Danh sách người mắc nợ, tuổi nợ và khả năng thu hồi từng khoản phải thu.
- Danh mục tài sản, nghĩa vụ bảo đảm và khả năng khai thác hoặc xử lý tài sản.
- Chi phí cần thiết để duy trì hoạt động trong giai đoạn phục hồi.
- Tiền lương, bảo hiểm, trợ cấp và quyền lợi khác của người lao động.
- Nghĩa vụ thuế và tình trạng các khoản thuế nợ.
- Dòng tiền dự kiến và nguồn lực có thể huy động hợp pháp để thực hiện phương án.
Đối với doanh nghiệp có đồng thời vấn đề về kế toán, thuế và công nợ, phương án phục hồi nên được xây dựng trên cùng một bộ dữ liệu đã đối chiếu. MAN – Master Accountant Network có thể hỗ trợ rà soát hồ sơ theo hướng kết nối số liệu kế toán, công nợ, nghĩa vụ thuế, tài sản và dòng tiền với yêu cầu của phương án phục hồi.
Nghĩa vụ thuế và thanh toán trong giai đoạn phục hồi
Luật 142/2025/QH15 có cơ chế hỗ trợ dòng tiền ngay sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi. Theo khoản 3 Điều 30, kể từ ngày thụ lý đơn, doanh nghiệp được khoanh tiền thuế nợ theo đề nghị của Tòa án và tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất; thời hạn thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế và bảo hiểm xã hội.
Cơ chế khoanh tiền thuế nợ không đồng nghĩa với xóa nợ thuế hoặc miễn nghĩa vụ thuế. Doanh nghiệp vẫn phải theo dõi đầy đủ số thuế nợ và thực hiện nghĩa vụ theo quy định khi điều kiện khoanh nợ chấm dứt. Vì vậy, kế toán không nên ghi nhận cơ chế này như một khoản miễn hoặc giảm nghĩa vụ thuế.
Ngoài ra, các khoản nợ phát sinh trước khi thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi bị tạm dừng thanh toán kể từ thời điểm thụ lý cho đến khi Tòa án công nhận phương án hoặc đình chỉ thủ tục, trừ trường hợp thanh toán chi phí cần thiết để duy trì hoạt động theo quyết định của Thẩm phán. Các khoản nợ tiếp tục tính lãi nhưng tạm dừng trả lãi trong khoảng thời gian luật định, trừ trường hợp thuộc ngoại lệ.
Vì vậy, doanh nghiệp cần tách riêng ba vấn đề khi lập báo cáo dòng tiền: khoản nợ đang tạm dừng thanh toán, khoản chi phí cần thiết để duy trì hoạt động và nghĩa vụ thuế được khoanh theo cơ chế của pháp luật. Việc gộp các nhóm này thành một khoản “nợ phải trả” sẽ làm giảm độ chính xác của phương án.
Vai trò của Quản tài viên trong quá trình phục hồi
Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tham gia vào nhiều khâu của thủ tục phục hồi, từ kiểm tra, tổng hợp và đối chiếu danh sách chủ nợ, người mắc nợ đến giám sát hoạt động và báo cáo Thẩm phán. Sau khi phương án được công nhận, chủ thể này tiếp tục tham gia giám sát việc thực hiện phương án theo Điều 35.
Với doanh nghiệp, việc phối hợp với Quản tài viên không chỉ dừng ở việc cung cấp hồ sơ khi được yêu cầu. Sổ kế toán, hợp đồng, danh mục tài sản, công nợ phải thu, công nợ phải trả và chứng từ giao dịch cần được chuẩn hóa để việc đối chiếu có thể thực hiện nhất quán.
Có thể xem thêm phân tích chuyên sâu về vai trò của Quản tài viên theo Luật Phục hồi, phá sản 2025 để hiểu rõ hơn về cơ chế giám sát trong luật mới.
Kết luận
Phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật Phục hồi, phá sản 2025 là một thủ tục pháp lý riêng, được ưu tiên áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã theo nguyên tắc tại Điều 3. Điểm quan trọng của cơ chế mới là doanh nghiệp có thể tiếp cận thủ tục phục hồi khi có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán, thay vì chỉ chờ đến giai đoạn xử lý phá sản.
Ba mốc doanh nghiệp cần ghi nhớ là: 30 ngày để hoàn thiện phương án kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn; thời hạn thực hiện phương án theo nghị quyết Hội nghị chủ nợ, và nếu Hội nghị không xác định thì tối đa 03 năm kể từ ngày thông qua phương án; báo cáo tình hình thực hiện định kỳ 03 tháng một lần sau khi phương án được công nhận.
Đối với kế toán và người quản lý, trọng tâm không chỉ là hoàn thiện hồ sơ pháp lý mà còn phải chứng minh phương án có cơ sở tài chính. Công nợ, tài sản, nghĩa vụ thuế, quyền lợi người lao động và dòng tiền phải được đối chiếu trước khi đưa vào phương án. Nếu phương án không được thực hiện, hết thời hạn mà không hoàn thành hoặc thuộc trường hợp luật định, thủ tục phục hồi có thể bị đình chỉ và vụ việc có thể chuyển sang xử lý phá sản.
Nguồn pháp lý
- Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026: Toàn văn Luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật
- Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế về khoanh tiền thuế nợ: Toàn văn Nghị định trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật
Chứng chỉ hành nghề: Kiểm toán viên CPA Việt Nam
Kinh nghiệm: Hơn 30 năm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán và Tư vấn Tài chính
Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán có được yêu cầu phục hồi hoạt động kinh doanh không?
Có. Điều 24 Luật 142/2025/QH15 cho phép người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi khi doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán. “Có nguy cơ mất khả năng thanh toán” được xác định theo Điều 5, trong đó có trường hợp không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng.
Phương án phục hồi phải hoàn thiện trong bao lâu?
Trong 30 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, doanh nghiệp, hợp tác xã phải hoàn thiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh để Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo Thẩm phán theo Điều 28 Luật 142/2025/QH15.
Khi nào thủ tục phục hồi dẫn đến thủ tục phá sản?
Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và Hội nghị chủ nợ đề nghị áp dụng thủ tục phá sản theo luật, đồng thời thực hiện nghĩa vụ tạm ứng chi phí phá sản theo yêu cầu. Nếu đã nộp tạm ứng, Thẩm phán đình chỉ thủ tục phục hồi và thụ lý vụ việc phá sản theo Điều 34. Ngoài ra, Điều 37 quy định các trường hợp đình chỉ thủ tục phục hồi khác, nên không phải mọi trường hợp đình chỉ đều tự động chuyển sang phá sản.





