Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoặc đã bước vào thủ tục phá sản, quyền lợi người lao động không tự động mất đi. Quyền nhận lương, các khoản bảo hiểm bắt buộc, trợ cấp thôi việc và quyền lợi theo hợp đồng lao động vẫn được pháp luật ghi nhận theo thứ tự ưu tiên nhất định. Đặc biệt, từ ngày 01/03/2026, 破产与追偿法第142/2025/QH15号 đã thay thế Luật Phá sản 2014, làm thay đổi đáng kể thời hạn để người lao động hoặc công đoàn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.

Quyền lợi người lao động khi doanh nghiệp phá sản gồm những gì?
Theo Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/03/2026, khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, tài sản được phân chia theo thứ tự ưu tiên tại Điều 46. Người lao động được ưu tiên đối với khoản nợ lương; tiếp đến là các khoản nợ BHXH bắt buộc, BHTN, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sau đó là trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động.
Như vậy, quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp phá sản có thể tập trung vào bốn nhóm chính: Việc xác định đúng tình trạng 企业破产 ngay từ đầu giúp người lao động xác định đúng thời điểm và cơ chế bảo vệ quyền lợi.
- Tiền lương còn nợ và các khoản có tính chất tiền lương mà doanh nghiệp phải thanh toán.
- Khoản nợ BHXH bắt buộc, BHTN, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thuộc nghĩa vụ của doanh nghiệp.
- Trợ cấp thôi việc theo điều kiện của pháp luật lao động.
- Các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động.
Điểm cần phân biệt là “được ưu tiên thanh toán” không đồng nghĩa với “chắc chắn được nhận đủ”. Nếu tài sản của doanh nghiệp không đủ để thanh toán toàn bộ các khoản thuộc cùng một thứ tự ưu tiên, những đối tượng cùng thứ tự được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ. Đây là điểm người lao động cần đặc biệt lưu ý khi đánh giá khả năng thu hồi tiền lương hoặc các khoản còn thiếu.

Thứ tự trả lương khi phá sản được xác định thế nào?
Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định tài sản của doanh nghiệp sau khi có quyết định tuyên bố phá sản được phân chia theo thứ tự: chi phí phá sản; khoản nợ lương; nợ BHXH bắt buộc, BHTN, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp thôi việc và quyền lợi khác của người lao động; nợ phục hồi; nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; sau đó mới đến các khoản nợ không có bảo đảm và phần nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do tài sản bảo đảm không đủ.
Tiền lương và các khoản nợ của người lao động
Tiền lương được xếp ngay sau chi phí phá sản trong thứ tự phân chia tài sản theo Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025. Điều này có nghĩa khoản lương còn nợ người lao động được ưu tiên trước các khoản nợ BHXH, BHTN, BHYT và nhiều nhóm nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa “nợ lương” và toàn bộ quyền lợi cuối cùng của người lao động. Luật tách khoản nợ lương thành một nhóm riêng, trong khi BHXH, BHTN, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được xếp ở nhóm tiếp theo; trợ cấp thôi việc và quyền lợi khác của người lao động được xếp ở nhóm kế tiếp.
Đối với doanh nghiệp FDI, việc ghi nhận chính xác bảng lương, phụ cấp, các khoản phải trả và thời điểm chấm dứt hợp đồng có ý nghĩa quan trọng khi xác định số nợ của từng người lao động. Hồ sơ lao động và chứng từ tiền lương nên được lưu trữ đầy đủ để làm căn cứ đối chiếu khi doanh nghiệp hoặc Quản tài viên lập danh sách các khoản phải thanh toán.
Nợ BHXH khi công ty phá sản được xử lý thế nào?
Khoản nợ BHXH bắt buộc, BHTN, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được xếp sau khoản nợ lương nhưng vẫn thuộc nhóm ưu tiên trong Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025. Luật cũng xác định các khoản nợ này bao gồm khoản chậm đóng, trốn đóng theo pháp luật về bảo hiểm.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp còn nợ BHXH khi công ty phá sản, người lao động cần kiểm tra riêng phần thời gian đã được xác nhận đóng và phần doanh nghiệp còn thiếu. Không nên mặc nhiên cho rằng toàn bộ thời gian làm việc đều đã được ghi nhận là thời gian đóng BHXH.
Một điểm mới đáng chú ý từ 01/03/2026 là cơ quan BHXH có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản trong trường hợp đã thông báo đôn đốc đối với khoản chậm, trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN, BHYT nhưng doanh nghiệp không có phản hồi trong 03 năm liên tiếp gần nhất theo điều kiện của Luật Phục hồi, phá sản 2025. Cơ chế này bổ sung thêm một công cụ pháp lý để xử lý tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm kéo dài.

Trợ cấp thôi việc và quyền lợi khác
Trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được xếp sau các khoản nợ lương và các khoản nợ bảo hiểm nêu trên. Việc người lao động có được hưởng trợ cấp thôi việc hay không vẫn phải căn cứ điều kiện của Bộ luật Lao động.
Theo Điều 46 2019年劳动法, người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc thì mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, với thời gian tính trợ cấp được xác định theo quy định của pháp luật và loại trừ thời gian đã tham gia BHTN hoặc thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Do đó, khi lập yêu cầu thanh toán, người lao động nên tách riêng tiền lương còn thiếu, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác thay vì gộp thành một khoản chung. Cách xác định riêng từng khoản giúp đối chiếu chính xác với hợp đồng lao động, bảng lương và hồ sơ bảo hiểm.
Người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản không?
Từ 01/03/2026, người lao động và công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đã hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương hoặc các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thanh toán. Quy định này thay mốc 03 tháng của Luật Phá sản 2014.
Khi nào người lao động được nộp đơn?
Theo khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, người lao động hoặc công đoàn có quyền nộp đơn khi đồng thời có căn cứ về nghĩa vụ thanh toán đã đến hạn và doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải trả.
Cần phân biệt thời điểm doanh nghiệp “khó khăn tài chính” với thời điểm đủ căn cứ theo Luật để xác định mất khả năng thanh toán. Luật Phục hồi, phá sản 2025 xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Vì vậy, việc doanh nghiệp chậm trả một vài kỳ lương chưa đồng nghĩa người lao động có thể ngay lập tức nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản. Thời điểm đến hạn của khoản nợ và thời gian doanh nghiệp không thanh toán cần được xác định bằng tài liệu cụ thể.

Người lao động cần chuẩn bị gì khi yêu cầu phá sản?
Đơn yêu cầu phải được gửi đến Tòa án có thẩm quyền và kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu có căn cứ và hợp pháp. Với người lao động, hồ sơ thực tế nên tập trung vào các tài liệu chứng minh quan hệ lao động và khoản nợ, chẳng hạn hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, bảng lương, sao kê tiền lương, thông báo của doanh nghiệp, quyết định chấm dứt hợp đồng và dữ liệu đóng bảo hiểm.
Sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, Điều 55 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản. Hết thời hạn này, về nguyên tắc chủ nợ có thể mất quyền tham gia thủ tục phá sản, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo luật.
Đối với tập thể người lao động, công đoàn có thể đóng vai trò tập hợp chứng cứ, thống nhất số liệu về tiền lương, bảo hiểm và các quyền lợi còn thiếu. Đây là cách hạn chế tình trạng mỗi người kê khai một số liệu khác nhau, gây khó khăn cho việc đối chiếu.
Lương, BHXH khi công ty phá sản được giải quyết ra sao?
Khi hợp đồng lao động chấm dứt do doanh nghiệp phá sản, quyền lợi về tiền lương và bảo hiểm vẫn phải được xác định trong quá trình giải quyết phá sản. Bộ luật Lao động 2019 yêu cầu các khoản liên quan đến quyền lợi người lao động được thanh toán theo trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng, đồng thời xác định tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác là nhóm được ưu tiên trong trường hợp doanh nghiệp phá sản.
Chốt sổ BHXH khi doanh nghiệp phá sản
Theo Luật BHXH 2024, người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với cơ quan BHXH trong việc xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng. Từ năm 2026, sổ BHXH được thực hiện theo hướng điện tử, còn bản giấy được cấp khi người tham gia yêu cầu.
Trong trường hợp doanh nghiệp phá sản hoặc còn nợ bảo hiểm, người lao động không nên chỉ chờ doanh nghiệp hoàn tất thủ tục. BHXH Việt Nam đã hướng dẫn trường hợp doanh nghiệp phá sản, không thực hiện được việc chốt sổ thì người lao động có thể liên hệ cơ quan BHXH nơi doanh nghiệp tham gia để được xác nhận thời gian đã đóng theo hồ sơ thực tế. Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ, việc xác nhận có thể thực hiện đến thời điểm đã đóng; sau khi thu hồi được khoản còn nợ, cơ quan BHXH xác nhận bổ sung thời gian đóng.
Cách hiểu chính xác về “chốt sổ” trong trường hợp này là xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN theo dữ liệu đã được cơ quan BHXH ghi nhận. Người lao động nên kiểm tra dữ liệu đóng trước khi chuyển sang đơn vị mới hoặc thực hiện thủ tục hưởng chế độ.
Người lao động có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?
Việc doanh nghiệp phá sản không làm phát sinh trợ cấp thất nghiệp một cách tự động. Người lao động phải đáp ứng các điều kiện của Luật Việc làm 2025.
Theo Điều 38 Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/01/2026, người lao động phải chấm dứt hợp đồng đúng quy định, đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng đối với trường hợp thông thường, nộp đủ hồ sơ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt và đáp ứng điều kiện về tình trạng việc làm theo luật.
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng, nhưng không vượt quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng áp dụng tại tháng cuối cùng đóng BHTN. Thời gian hưởng được tính theo thời gian đóng BHTN, tối đa 12 tháng.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp phá sản làm người lao động mất việc, việc xác nhận quá trình đóng BHTN và chuẩn bị hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cần được thực hiện sớm, không nên chờ đến khi toàn bộ thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp kết thúc.
Người lao động cần làm gì để bảo vệ quyền lợi?
Người lao động nên xử lý quyền lợi theo hai hướng song song: xác định chính xác khoản nợ của doanh nghiệp và bảo toàn chứng cứ để tham gia thủ tục phá sản. Đối với doanh nghiệp FDI, việc đối chiếu hồ sơ lao động, bảng lương, dữ liệu chuyển khoản và dữ liệu BHXH càng quan trọng vì có thể phát sinh chênh lệch giữa hồ sơ nội bộ và dữ liệu của cơ quan quản lý. Việc nắm được quy trình thủ tục phá sản doanh nghiệp cũng giúp người lao động theo dõi đúng mốc thời gian và cơ quan có thẩm quyền.
Trước khi doanh nghiệp ngừng hoạt động hoàn toàn, người lao động nên lưu lại hợp đồng lao động và phụ lục hợp đồng, bảng lương, chứng từ trả lương, thông báo nợ lương, quyết định chấm dứt hợp đồng và thông tin quá trình đóng BHXH, BHTN. Nếu có thỏa ước lao động tập thể hoặc chính sách nội bộ quy định quyền lợi cao hơn, cần lưu cả các tài liệu này.
Khi thủ tục phá sản đã được Tòa án mở, cần theo dõi thông báo về việc gửi giấy đòi nợ và thời hạn 15 ngày theo Điều 55 Luật Phục hồi, phá sản 2025. Việc bỏ qua thời hạn này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tham gia thủ tục với tư cách chủ nợ.
Với công đoàn, trọng tâm không chỉ là yêu cầu doanh nghiệp trả lương mà còn là tập hợp danh sách người lao động, xác định từng khoản nợ, đối chiếu BHXH và hỗ trợ người lao động thực hiện quyền của mình trong thủ tục phá sản. Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP còn hướng dẫn hồ sơ liên quan đến kế hoạch sắp xếp người lao động và tình hình thanh toán lương, BHXH cùng các nghĩa vụ tài chính khác đối với người lao động.
Trong thực tiễn xử lý hồ sơ phá sản, MAN – Master Accountant Network khuyến nghị doanh nghiệp và người lao động tách riêng ba nhóm dữ liệu: nghĩa vụ tiền lương, nghĩa vụ bảo hiểm và các khoản trợ cấp hoặc quyền lợi theo hợp đồng. Cách phân loại này giúp hạn chế nhầm lẫn khi lập bảng công nợ và đối chiếu với thứ tự ưu tiên thanh toán theo luật.
Có quỹ hỗ trợ riêng để trả lương khi công ty phá sản không?
Pháp luật hiện hành không thiết lập một quỹ riêng có cơ chế tự động thanh toán toàn bộ tiền lương còn thiếu cho người lao động chỉ vì doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Tiền lương và các khoản thuộc quyền lợi người lao động trước hết được xử lý từ tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự phân chia tại Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025.
Quỹ BHTN là cơ chế khác. Theo Luật Việc làm 2025, quỹ này được sử dụng để thực hiện các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, trong đó có trợ cấp thất nghiệp, tư vấn và giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nâng cao kỹ năng nghề. Quỹ BHTN không phải là nguồn mặc nhiên dùng để thay doanh nghiệp trả khoản tiền lương còn nợ.
Trong trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyền lợi từ Quỹ BHTN có thể trở thành nguồn hỗ trợ thu nhập sau khi quan hệ lao động chấm dứt. Đây là hai cơ chế cần tách biệt: tiền lương còn nợ là khoản phải yêu cầu doanh nghiệp thanh toán trong quá trình phá sản, còn trợ cấp thất nghiệp là chế độ bảo hiểm được giải quyết khi đáp ứng điều kiện luật định.
Lưu ý đối với doanh nghiệp FDI và đại diện công đoàn
Đối với doanh nghiệp FDI, khi xem xét phá sản cần phân biệt giải thể và phá sản, nhưng trong cả hai trường hợp doanh nghiệp vẫn phải xử lý nghĩa vụ đối với người lao động tại Việt Nam. Hồ sơ lao động, tiền lương, BHXH, BHTN và các thỏa thuận có liên quan cần được quản lý thống nhất để có thể xác định đầy đủ nghĩa vụ khi doanh nghiệp tái cấu trúc hoặc chấm dứt hoạt động.
Một điểm đáng chú ý là từ 01/03/2026, Luật Phục hồi, phá sản 2025 cho phép cơ quan BHXH có quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm kéo dài và không phản hồi theo điều kiện luật định. Do đó, việc để khoản nợ BHXH kéo dài không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động mà còn có thể làm gia tăng rủi ro pháp lý của doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán, việc rà soát nghĩa vụ với người lao động nên được thực hiện trước khi quyết định phương án tái cấu trúc, phục hồi hoặc phá sản. Việc này giúp xác định đúng công nợ lao động và tránh phát sinh tranh chấp trong giai đoạn xử lý tài sản.
总结
Quyền lợi người lao động khi doanh nghiệp phá sản vẫn được pháp luật bảo vệ, nhưng khả năng thu hồi thực tế phụ thuộc vào tài sản còn lại và việc người lao động thực hiện đúng các quyền, thời hạn trong thủ tục phá sản. Từ 01/03/2026, Luật Phục hồi, phá sản 2025 đặt khoản nợ lương ngay sau chi phí phá sản, tiếp đến là các khoản nợ bảo hiểm và sau đó là trợ cấp thôi việc cùng quyền lợi khác của người lao động.
Người lao động nên chủ động lưu chứng cứ về tiền lương, hợp đồng và bảo hiểm; theo dõi quyết định mở thủ tục phá sản; thực hiện việc kê khai, gửi giấy đòi nợ đúng hạn; đồng thời kiểm tra quá trình đóng BHXH, BHTN để không bỏ lỡ quyền lợi an sinh sau khi mất việc.
Đối với doanh nghiệp FDI và tổ chức công đoàn, việc phân loại chính xác công nợ lao động, nghĩa vụ bảo hiểm và quyền lợi theo hợp đồng là bước quan trọng để bảo vệ quyền lợi các bên và hạn chế tranh chấp trong quá trình phục hồi hoặc phá sản.
法律依据
- Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/03/2026.
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực từ 01/01/2021.
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, có hiệu lực từ 01/07/2025.
- Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/01/2026.
- Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
专业执照: 越南注册会计师事务所审计师
经验: 拥有超过30年的会计、审计和财务咨询经验。
Câu hỏi thường gặp về quyền lợi người lao động khi doanh nghiệp phá sản
Công ty phá sản có phải trả lương cho người lao động không?
Có. Khoản nợ lương thuộc nhóm được ưu tiên phân chia tài sản sau chi phí phá sản theo Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025. Tuy nhiên, nếu tài sản không đủ thanh toán toàn bộ, các khoản cùng thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số nợ.
Người lao động có được tự nộp đơn yêu cầu phá sản công ty không?
Có, nếu đáp ứng điều kiện luật định. Từ 01/03/2026, người lao động hoặc công đoàn có quyền nộp đơn khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đã hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải trả lương hoặc các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thanh toán.
Công ty phá sản có chốt sổ BHXH cho người lao động không?
Doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp xác nhận thời gian đóng BHXH khi chấm dứt quan hệ lao động. Nếu doanh nghiệp phá sản và không thực hiện được thủ tục, người lao động có thể liên hệ cơ quan BHXH nơi doanh nghiệp tham gia để được hướng dẫn xác nhận thời gian đã đóng theo dữ liệu thực tế.
Quỹ BHTN có trả tiền lương công ty còn nợ không?
Không. Quỹ BHTN thực hiện các chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm, trong đó có trợ cấp thất nghiệp. Tiền lương còn nợ là khoản phải được xác định và thanh toán trong quá trình giải quyết nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp phá sản.





